Các phép đo và nguồn gốc của chúng
Độ lớn tích hợp tuân theo ITU-R BS.1770: tín hiệu được trọng số hoá K, chia thành các khối 400 mili giây chồng lấn 75 phần trăm, rồi qua hai lần cổng — một cổng tuyệt đối tại −70 LUFS, sau đó một cổng tương đối thấp hơn mười đơn vị so với giá trị trung bình khi chưa mở cổng. Độ lớn ngắn hạn dùng cửa sổ ba giây định nghĩa trong EBU Tech 3341. Dải độ lớn tuân theo EBU Tech 3342, vốn dùng một cổng tương đối khác: hai mươi đơn vị, không phải mười. Khác biệt đó là lỗi triển khai rất hay gặp, và khi làm sai thì dải độ lớn sẽ hiện ra hẹp hơn thực tế.
True peak, và vì sao lấy mẫu vượt không phải là tuỳ chọn
Giá trị các mẫu không mô tả dạng sóng mà bộ chuyển đổi dựng lại giữa chúng. Những đỉnh chỉ tồn tại giữa hai mẫu là có thật, và các bộ mã hoá có tổn hao sẽ dựng lại chúng. ITU-R BS.1770 Phụ lục 2 quy định mức lấy mẫu vượt tối thiểu bốn lần cho phép đo true peak; công cụ này dùng tám. Nếu máy đo của bạn chỉ báo đỉnh mẫu, nó đang nói về tệp chứ không phải về khâu phát lại, và nó sẽ cho lọt một bản master bị méo trên mọi dịch vụ.
PLR và PSR — hữu ích, nhưng không phải tiêu chuẩn
Peak to loudness ratio là true peak trừ đi độ lớn tích hợp trên toàn bản nhạc. Peak to short-term ratio là true peak so với cửa sổ ba giây to nhất, tức đúng chỗ mà limiter thực sự cắn vào. Không đại lượng nào được ITU, EBU hay AES định nghĩa. Chúng là quy ước của giới mastering, và các ngưỡng người ta dùng — dưới năm đơn vị nghĩa là limit nặng, dưới ba nghĩa là limit rất nặng — đến từ thực hành chứ không từ một văn bản nào. Công cụ này báo cả hai và nói thẳng rằng đó là quy ước.
Chuẩn hoá độ lớn khi phát lại thực sự làm gì
Mọi dịch vụ lớn đều hạ nội dung to xuống gần một mức mục tiêu và nhìn chung không nâng nội dung nhỏ lên. Vấn đề trung thực là chỉ một phần các mức mục tiêu đó được công bố. Spotify có tài liệu cho con số của mình. EBU R 128 và khuyến nghị của AES cho streaming là các tiêu chuẩn đã công bố. Những con số lưu truyền về các dịch vụ còn lại thì chỗ nào cũng nhắc nhưng không có tài liệu nào để chúng tôi kiểm chứng tận nguồn. Bảng trên trang này ghi chú từng dòng đúng như vậy, vì một con số nói chắc nịch từ nguồn không kiểm chứng được còn tệ hơn một khoảng trống thành thật.
Phép thử codec mà không ai khác chạy
Bộ mã hoá có tổn hao không giữ nguyên giá trị mẫu. Do lượng tử hoá và bộ lọc tái dựng của bộ giải mã, dạng sóng sau giải mã có thể có đỉnh cao hơn bản gốc — với chất liệu dày thì thường cao hơn từ nửa decibel đến một decibel rưỡi. Vì thế một bản master nằm sát toàn thang sẽ bị cắt đỉnh sau khi mã hoá, dù chính tệp gốc chưa hề bị cắt. Đa số phần mềm phân tích chỉ ước đoán điều này. Công cụ này thực sự mã hoá âm thanh của bạn sang AAC và Opus ngay trong trình duyệt, giải mã ngược lại và đo đỉnh sau giải mã, nên con số bạn thấy là điều đã xảy ra chứ không phải ước lượng.
Mono không phải chuyện hình thức
Tương quan giữa hai kênh cho biết chúng cộng hưởng hay triệt tiêu nhau. Nhưng con số đáng kể là mức bạn thực sự mất khi bản mix bị dồn xuống mono, và công cụ này đo trực tiếp điều đó thay vì suy ra từ tương quan. Loa điện thoại, loa thông minh, phát trên máy tính xách tay và phần lớn hệ thống trong club đều dồn về mono hoặc gần như vậy, nên một bản mix rộng mất vài decibel khi dồn là mất chúng ngay trước phần lớn khán giả.
Giá trị PSR bao nhiêu là tốt?
Không có câu trả lời chính thức, và vì vậy công cụ ghi rõ đây là quy ước. Trên thực tế, peak to short-term ratio trên khoảng tám đơn vị được coi là bản master giàu động lực, năm đến tám là có kiểm soát, ba đến năm là bị limit nặng, và dưới ba là bị limit rất nặng. Việc đó có sai hay không hoàn toàn phụ thuộc vào âm nhạc. Phép đo cho bạn biết bạn đã làm gì; nó không cho biết bạn lẽ ra nên làm gì.