Bản master immersive thực chất là gì
Nó không phải một tệp stereo được gắn thêm hiệu ứng. Nó là một tệp đa kênh trong container BW64 — dạng wave dài định nghĩa trong ITU-R BS.2088, ra đời vì định dạng wave gốc không thể vượt quá bốn gigabyte — mang thêm hai chunk. Chunk axml chứa siêu dữ liệu Audio Definition Model dưới dạng XML, định nghĩa trong ITU-R BS.2076. Chunk chna ánh xạ từng track trong tệp tới một định danh trong siêu dữ liệu đó. Thiếu một trong hai chunk thì bạn chỉ có một tệp wave đa kênh thông thường, và nó sẽ bị từ chối khi nộp dưới dạng immersive.
Bed và các object
Bộ render đã công bố nhận tối đa một trăm hai mươi tám đầu vào. Mười đầu vào đầu tiên là bed — một bố trí kênh cố định, thường là bảy chấm một chấm hai. Từ đầu vào thứ mười một trở đi đều là object: một phần tử mono hoặc stereo mang siêu dữ liệu vị trí giúp nó di chuyển trong không gian thay vì gán cứng vào một loa. Như vậy có tối đa một trăm mười tám đường kênh object. Không có giới hạn riêng cho âm nhạc nào được công bố thấp hơn con số đó; lời khuyên rằng nhạc chỉ nên dùng một bed và vài chục object là quy ước từ thực hành, không phải luật.
Những con số các dịch vụ công bố
Tài liệu hướng dẫn nộp tài sản của Apple nêu rằng độ lớn tích hợp của một bản master immersive không được vượt quá âm mười tám, đo theo ITU-R BS.1770, và true peak không được vượt quá âm một decibel true peak. Tài liệu yêu cầu âm thanh tuyến tính hai mươi bốn bit ở bốn mươi tám kilohertz, nộp dưới dạng tệp BW64 kèm siêu dữ liệu ADM. Nó cũng yêu cầu một phiên bản stereo tương ứng, đồng bộ với bản immersive. Hãy để ý cách diễn đạt: các con số độ lớn đó là mức trần, không phải mức mục tiêu chuẩn hoá, và khác biệt này quan trọng khi bạn quyết định đẩy mạnh tới đâu.
Không được phép upmix một bản mix stereo
Đây là phần người ta bị chào bán nhiều nhất và cũng bất ngờ nhiều nhất. Hướng dẫn đã công bố của Apple nói rõ rằng các tệp immersive tạo ra từ bản mix stereo là không được phép. Một bản master immersive được dựng từ phiên multitrack, do một con người làm, trong bộ render có bản quyền, với những quyết định về cái gì thuộc về bed và cái gì trở thành object. Bất kỳ dịch vụ nào chào mời chuyển một bản master stereo đã hoàn chỉnh thành bản immersive thì hoặc đang làm điều đặc tả cấm, hoặc đang mô tả một thứ khác.
Vì sao binaural mới là thứ đa số người nghe thực sự nghe
Rất ít người nghe có dàn loa. Đại đa số nghe nhạc immersive bằng tai nghe, qua một bản render binaural. Định dạng mang siêu dữ liệu cho từng phần tử, mô tả mỗi object nên được ảo hoá thế nào trong bản render đó — nhưng chỉ dẫn nào còn sống sót thì tuỳ vào đường phát hành, và trên dịch vụ nhạc lớn nhất thì bản render cho tai nghe là của chính nền tảng chứ không phải bản bạn đã kiểm âm. Hệ quả thực tế: hãy nghe lại bản mix bằng tai nghe qua chính dịch vụ đó trước khi kết luận là đã xong.
Điều công cụ này từ chối giả vờ
Nó đọc những phần mở và đã công bố của tệp: container định nghĩa trong ITU-R BS.2088 và mô hình siêu dữ liệu định nghĩa trong ITU-R BS.2076, cả hai đều là khuyến nghị công khai. Nó không render. Thuật toán biến các object thành tín hiệu cho loa là độc quyền và phải có giấy phép, nên không trình duyệt nào tạo được bản render hợp chuẩn, và một con số độ lớn lấy từ một phép xấp xỉ không có giấy phép sẽ không phải là phép đo hợp lệ cho khâu nộp bài. Nó cũng không mã hoá hay giải mã các codec phát sóng dùng để truyền tải nhạc immersive, vốn đã được cấp bằng sáng chế. Một công cụ kiểm tra biết thừa nhận giới hạn của mình thì hữu ích hơn một bộ render nói dối về giới hạn của nó.